Từ khối lượng kiến nghị lớn đến yêu cầu chuẩn hóa quy trình
Từ thực tiễn sau hợp nhất, Phó Chủ tịch HĐND thành phố Nguyễn Công Thanh cho biết hoạt động tiếp xúc cử tri vẫn được duy trì liên tục, không bị gián đoạn trong giai đoạn chuyển đổi mô hình. Thành phố đã tổ chức 04 đợt tiếp xúc cử tri tại 122 điểm, tiếp nhận và tổng hợp 1.345 kiến nghị; trong đó 1.096 kiến nghị được xác định thuộc thẩm quyền thành phố và 249 kiến nghị thuộc thẩm quyền xã, phường. Những con số này cho thấy tiếp xúc cử tri tiếp tục là một kênh dân nguyện quan trọng, phản ánh trực tiếp những vấn đề phát sinh từ cơ sở trong quá trình vận hành bộ máy mới.
Đáng chú ý, riêng trước Kỳ họp thường lệ giữa năm 2026, Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố tổng hợp 616 kiến nghị thuộc thẩm quyền thành phố, trong khi 14 Tổ đại biểu HĐND thành phố tổng hợp 583 kiến nghị. Sau khi rà soát, đối chiếu, Thường trực HĐND thành phố chuyển 728 kiến nghị, gồm 542 kiến nghị thuộc thẩm quyền UBND thành phố và 186 kiến nghị thuộc thẩm quyền xã, phường. Việc đối chiếu này đã góp phần hạn chế trùng lặp, làm rõ địa bàn, lĩnh vực và cơ quan có trách nhiệm xử lý; đồng thời cho thấy nếu thiếu một quy trình thống nhất ngay từ đầu, cùng một vấn đề có thể đi qua nhiều kênh tổng hợp khác nhau, phát sinh trùng lặp hoặc kéo dài thời gian xử lý.
Theo Phó Chủ tịch HĐND thành phố, đây chính là điểm cần thay đổi căn bản trong nhiệm kỳ mới: tiếp xúc cử tri phải chuyển từ cách làm “ghi nhận rồi chuyển” sang cơ chế “tiếp nhận - theo dõi - đôn đốc - giám sát kết quả”. Vai trò của Tổ đại biểu, đại biểu HĐND và Mặt trận vì thế không kết thúc sau hội nghị, mà tiếp tục ở các khâu rà soát thẩm quyền, theo dõi tiến độ, lựa chọn vấn đề bức xúc để khảo sát, giám sát, giải trình hoặc chất vấn.

Phó Chủ tịch HĐND thành phố Nguyễn Công Thanh phát biểu tại Tọa đàm.
Không để kiến nghị “đi vòng”, không đồng nhất “đã trả lời” với “đã giải quyết”
Phân tích sâu hơn những điểm nghẽn hiện nay, Phó Chủ tịch HĐND thành phố cho rằng vấn đề đầu tiên là xác định thẩm quyền có lúc chưa thống nhất. Có kiến nghị thuộc thẩm quyền xã, phường nhưng vẫn chuyển lên thành phố; ngược lại, có nội dung đã được điều chuyển về thành phố quản lý nhưng vẫn phát sinh đề nghị chuyển cơ quan Trung ương. Trường hợp Dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 14E trên địa bàn xã Hiệp Đức là ví dụ cho thấy yêu cầu phải xác định đúng “địa chỉ trách nhiệm” ngay từ khâu đầu: dự án đã được điều chuyển về địa phương quản lý theo Quyết định số 1602/QĐ-BTC ngày 29/4/2025 của Bộ Tài chính, nhưng quá trình rà soát vẫn phát sinh đề nghị chuyển cơ quan Trung ương xem xét, trả lời.
Một điểm nghẽn khác là chất lượng phối hợp giữa Mặt trận thành phố, Mặt trận cấp xã và các Tổ đại biểu trong tổng hợp kiến nghị có trường hợp chưa đồng bộ; số lượng, cách diễn đạt và cách xác định thẩm quyền còn khác nhau. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật, bởi một kiến nghị được diễn đạt không rõ nội dung, không rõ địa bàn hoặc không xác định đúng cơ quan xử lý có thể dẫn đến trùng lặp, bỏ sót hoặc chuyển sai nơi có thẩm quyền.
Phó Chủ tịch HĐND thành phố cũng lưu ý trách nhiệm giải trình trực tiếp của cơ quan chuyên môn tại hội nghị cần được nâng lên. Trước Kỳ họp thứ 4, chỉ có 09 đơn vị có văn bản đăng ký tham gia tiếp xúc cử tri; vì vậy, một số vấn đề chuyên ngành chưa được giải thích, làm rõ ngay tại hội nghị, dẫn đến những nội dung có thể xử lý tại chỗ vẫn tiếp tục được ghi nhận và chuyển qua nhiều khâu. Quan điểm được đặt ra là vấn đề nào đã rõ căn cứ, rõ thẩm quyền thì phải giải thích, trả lời ngay; nội dung đã được giải trình thỏa đáng thì không tiếp tục tổng hợp như một kiến nghị mới.
Đặc biệt, Phó Chủ tịch HĐND thành phố nhấn mạnh phải phân biệt rõ giữa “đã có văn bản trả lời” và “kiến nghị đã được giải quyết”. Một văn bản phản hồi mới chỉ là một bước trong quy trình. Điều cử tri cần là kết quả thực tế: công việc đã làm đến đâu, cơ quan nào chịu trách nhiệm, thời hạn hoàn thành là khi nào, vướng mắc nằm ở đâu và lộ trình xử lý ra sao. Vì vậy, “hậu tiếp xúc” phải trở thành một khâu bắt buộc và có thể đo đếm được, thay vì chỉ dừng ở việc thống kê số lượng văn bản đã ban hành.
Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết trong mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Khi không còn cấp huyện làm đầu mối trung gian, mối quan hệ xử lý kiến nghị giữa thành phố và xã, phường trở nên trực tiếp hơn, trong khi nhiều vấn đề của cử tri lại mang tính liên xã, liên ngành. Nếu không thiết kế lại quy trình điều phối, nguy cơ đùn đẩy trách nhiệm hoặc để kiến nghị kéo dài sẽ tăng lên, nhất là với các nội dung đất đai, quy hoạch, bồi thường - tái định cư, môi trường, hạ tầng, an sinh xã hội và những vấn đề phát sinh trên địa bàn rộng.
Quản lý “vòng đời” kiến nghị và lấy sự chuyển biến thực tế làm thước đo
Từ những vướng mắc trên, Phó Chủ tịch HĐND thành phố đề nghị sớm thống nhất một quy trình phối hợp xuyên suốt trong nhiệm kỳ 2026 - 2031 trên cơ sở các quy định hiện hành, không để tồn tại nhiều luồng tổng hợp song song. Trách nhiệm của Tổ đại biểu, Mặt trận cấp xã, Mặt trận thành phố, cơ quan tham mưu HĐND và cơ quan hành chính phải được xác định cụ thể ở từng khâu; những nội dung còn khác nhau về đầu mối chuyển kiến nghị và đầu mối tổng hợp kết quả cần được sớm thống nhất trong quy chế phối hợp.
Ngay từ khâu tiếp nhận, việc phân loại cần được chuẩn hóa theo nguyên tắc “rõ nội dung - rõ thẩm quyền - rõ cơ quan chủ trì - rõ cơ quan phối hợp - rõ thời hạn - rõ kết quả”. Kiến nghị thuộc thẩm quyền cấp xã phải ưu tiên giải quyết tại cơ sở; kiến nghị thuộc thành phố phải chuyển đúng sở, ngành chủ trì; nội dung liên ngành phải có một cơ quan chịu trách nhiệm tổng hợp cuối cùng. Cách làm này nhằm khắc phục tình trạng mỗi cơ quan trả lời một phần nhưng không có một đầu mối chịu trách nhiệm đến cùng đối với kết quả chung.
Cùng với đó, sau mỗi đợt tiếp xúc cần phân loại rõ kiến nghị đã giải quyết, đang giải quyết, chưa giải quyết, tồn đọng kéo dài hoặc lặp lại qua nhiều kỳ. Đối với nhóm tồn đọng, phải xác định nguyên nhân, trách nhiệm và lộ trình xử lý. Thường trực HĐND, các Ban và Tổ đại biểu cần lựa chọn những vấn đề bức xúc, chậm chuyển biến để tổ chức khảo sát, giám sát, giải trình hoặc chất vấn. Đây là cách đưa kiến nghị cử tri từ một nội dung “được ghi nhận” trở thành một nhiệm vụ công vụ có trạng thái xử lý và có cơ chế kiểm tra kết quả.
Phương thức tiếp xúc cũng cần được đổi mới theo hướng gần dân, sát vấn đề và sát đối tượng. Thay vì chỉ tổ chức theo địa bàn hành chính, cần tăng các cuộc tiếp xúc theo chuyên đề, nhóm đối tượng, khu dân cư hoặc nơi làm việc; địa bàn nào có vấn đề nổi lên thì chủ động đến địa bàn đó, nhóm nào chịu tác động trực tiếp thì tạo điều kiện để chính nhóm đó được lên tiếng. Mặt trận cần tiếp tục phát huy vai trò nắm tình hình Nhân dân, mở rộng thành phần cử tri tham dự, hạn chế tình trạng chỉ tập trung vào những nhóm cử tri quen thuộc.
Một nội dung có tính nền tảng là đẩy mạnh chuyển đổi số để quản lý toàn bộ “vòng đời” của kiến nghị. Hướng tới một cơ sở dữ liệu dùng chung giữa HĐND, Mặt trận và cơ quan hành chính, mỗi kiến nghị cần có mã theo dõi, cơ quan chủ trì, trạng thái xử lý, thời hạn, tiến độ và kết quả. Hệ thống phải có khả năng cảnh báo kiến nghị sắp quá hạn, nhận diện vấn đề lặp lại nhiều lần hoặc lĩnh vực phát sinh điểm nghẽn; đồng thời bảo đảm cử tri được thông tin trở lại. Việc nghiên cứu khảo sát mức độ hài lòng của cử tri đối với kết quả giải quyết cũng được đặt ra như một căn cứ để đánh giá trách nhiệm thực thi công vụ.
Phó Chủ tịch HĐND thành phố Nguyễn Công Thanh khái quát yêu cầu đổi mới bằng một chuỗi hành động rõ ràng: “nghe đúng - phân loại đúng - chuyển đúng - giải quyết đúng - theo dõi đến cùng - phản hồi kết quả cho cử tri”. Cách tiếp cận này đặt trọng tâm không phải ở việc tổ chức thêm bao nhiêu cuộc tiếp xúc, mà ở năng lực quản trị cả quy trình dân nguyện và mức độ chuyển biến sau mỗi kiến nghị.
Với HĐND, mỗi ý kiến chính đáng của cử tri là nguồn thông tin thực tiễn để nâng cao chất lượng quyết định và giám sát; với Mặt trận, đó là tiếng nói của Nhân dân cần được tập hợp đầy đủ, trung thực; với UBND và cơ quan hành chính, đó là trách nhiệm phải được xử lý bằng kết quả cụ thể. Khi ba mắt xích này vận hành thống nhất, tiếp xúc cử tri mới thực sự trở thành một cơ chế kiểm chứng hiệu quả quản trị, củng cố niềm tin của Nhân dân và bảo đảm những vấn đề từ cơ sở được theo dõi đến cùng./.