Theo đại biểu, trưng mua, trưng dụng tài sản là một chế định pháp lý đặc biệt, chỉ được đặt ra trong những tình huống thật sự cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia. Đây cũng là nguyên tắc đã được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận tại khoản 3 Điều 32, theo đó, Nhà nước chỉ trưng mua, trưng dụng tài sản trong trường hợp thật cần thiết và phải có bồi thường theo giá thị trường.

Đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng thảo luận (Ảnh Quốc hội)
Từ tính chất đặc biệt của chế định này, đại biểu cho rằng các quy định của dự thảo Luật cần được thiết kế chặt chẽ, có căn cứ rõ ràng, vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có tài sản bị trưng mua, trưng dụng.
Làm rõ điều kiện xác định sự kiện bất khả kháng
Góp ý về khoản 2 Điều 12 của dự thảo Luật, liên quan đến sự kiện bất khả kháng, đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc cho rằng quy định hiện tại không hẳn chưa phù hợp, nhưng chưa đầy đủ và có thể phát sinh khó khăn trong quá trình áp dụng.
Theo đại biểu, trong quan hệ dân sự, việc xác định một sự kiện có được coi là bất khả kháng hay không trước hết cần căn cứ vào thỏa thuận của các bên. Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì việc xác định phải tuân theo quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự.
Do đó, việc mặc nhiên quy định tình huống trưng mua, trưng dụng tài sản là sự kiện bất khả kháng có thể chưa phù hợp với nguyên tắc tự do thỏa thuận trong giao dịch dân sự, nhất là khi hợp đồng giữa các bên đã có quy định khác về những trường hợp được xem là bất khả kháng.
Đại biểu đề nghị chỉnh lý theo hướng: việc trưng mua, trưng dụng tài sản chỉ được coi là sự kiện bất khả kháng khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật dân sự. Cách quy định này sẽ bảo đảm sự thống nhất giữa dự thảo Luật với Bộ luật Dân sự, đồng thời hạn chế những vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp và thực hiện hợp đồng.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, phát biểu giải trình làm rõ vấn đề đại biểu Quốc hội nêu (Ảnh Quốc hội)
Trưng mua, trưng dụng phải là biện pháp ít tác động nhất
Đối với Điều 7 quy định về điều kiện và trường hợp trưng mua, trưng dụng tài sản, đại biểu cơ bản đồng tình với cách tiếp cận tại khoản 1 khi dẫn chiếu đến các luật có quy định về việc thực hiện trưng mua, trưng dụng. Tuy nhiên, theo đại biểu, đây mới là điều kiện cần, chưa đủ để bảo đảm việc áp dụng chế định này đúng với tính chất đặc biệt của nó.
Đại biểu đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa các điều kiện được liệt kê tại khoản 2 Điều 7, cụ thể là phải đáp ứng đồng thời cả ba điều kiện hay chỉ cần đáp ứng một trong các điều kiện theo quy định.
Từ kinh nghiệm giải quyết các tranh chấp đầu tư quốc tế, đại biểu nhấn mạnh cần làm rõ nội hàm của yêu cầu “thật cần thiết”. Theo đó, khi có nhiều phương án hoặc biện pháp khác nhau để xử lý một tình huống, Nhà nước cần đánh giá đầy đủ các lựa chọn trước khi quyết định trưng mua, trưng dụng; trong đó, biện pháp được lựa chọn phải là biện pháp ít tác động nhất.
Đại biểu cho rằng tinh thần này cần được thể hiện thành một nguyên tắc rõ ràng trong dự thảo Luật, thay vì chỉ dừng lại ở việc liệt kê các trường hợp được phép trưng mua, trưng dụng.
Việc xác lập nguyên tắc lựa chọn biện pháp ít tác động nhất không chỉ góp phần cụ thể hóa yêu cầu “thật cần thiết” mà còn tạo cơ sở kiểm soát chặt chẽ quá trình ra quyết định, bảo đảm hài hòa giữa lợi ích quốc gia, yêu cầu quản lý nhà nước và quyền sở hữu tài sản hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Không nên tạo thêm cơ chế miễn trách nhiệm đối với người thực hiện đúng pháp luật
Một nội dung được đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc đặc biệt quan tâm là quy định tại khoản 4 Điều 5 về miễn, giảm trách nhiệm đối với người có thẩm quyền ra quyết định và người trực tiếp thực hiện việc trưng mua, trưng dụng tài sản.
Theo đại biểu, đây là vấn đề cần được cân nhắc kỹ lưỡng, bởi việc đưa các quy định miễn, giảm trách nhiệm vào từng đạo luật có thể tạo cảm giác rằng những người thực hiện nhiệm vụ, dù đã tuân thủ đúng quy định pháp luật, vẫn phải đặt trong cơ chế xem xét trách nhiệm và cần được miễn trách nhiệm.
Đại biểu nhấn mạnh, vấn đề cốt lõi cần xác định trước hết là người thực hiện có vi phạm pháp luật hay không. Nếu đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và không vi phạm quy định pháp luật thì không nên đặt vấn đề trách nhiệm để rồi phải bổ sung cơ chế miễn trách nhiệm.
Theo đại biểu, cần nghiên cứu một nguyên tắc chung, thống nhất trong hệ thống pháp luật: người không có hành vi vi phạm pháp luật thì không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Không nên để tình trạng từng dự án luật đều quy định trách nhiệm, sau đó lại thiết kế thêm các trường hợp miễn trách nhiệm đối với người thực hiện đúng quy định.