
Bộ Tư pháp tổ chức tập huấn Luật Tiếp cận thông tin trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026. Cùng với Nghị định số 337/2026/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 126/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính đã tạo lập được cơ sở pháp lý vững chắc, đưa quyền tiếp cận thông tin ngày càng minh bạch, rõ nét, gần dân hơn theo hướng hiện đại, nhân văn và thực tiễn.
Một số quy định nổi bật của Luật Tiếp cận thông tin năm 2026
Thứ nhất, mở rộng chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin: Không chỉ cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu (y tế, giáo dục, văn hóa, môi trường…) cũng phải công khai và cung cấp thông tin theo yêu cầu. Đây là bước tiến quan trọng, vì những dịch vụ này gắn trực tiếp với đời sống hàng ngày của người dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ hai, phân định rõ thông tin do cơ quan, đơn vị tạo ra và thông tin do cơ quan, đơn vị nắm giữ: Cơ quan, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra (trừ các trường hợp không được tiếp cận hoặc chỉ được tiếp cận có điều kiện). Đối với thông tin do mình nắm giữ, chỉ cung cấp khi việc cung cấp là cần thiết để bảo vệ lợi ích công cộng, sức khỏe cộng đồng. Quy định này vừa bảo vệ bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh, vừa không để người dân bị hạn chế quyền tiếp cận thông tin một cách không chính đáng.
Thứ ba, đa dạng hóa hình thức công khai và cung cấp thông tin, đẩy mạnh môi trường số: Ngoài Công báo và niêm yết truyền thống, Luật khuyến khích mạnh mẽ đăng tải trên cổng thông tin điện tử, cổng dữ liệu, trang cộng đồng chính thức, ứng dụng di động… Người dân có thể yêu cầu thông tin qua thư điện tử, Cổng Dịch vụ công quốc gia, hoặc sử dụng điện thoại cá nhân để sao, chụp tài liệu tại trụ sở cơ quan. Thời hạn cung cấp thông tin được quy định rõ ràng: đối với thông tin đơn giản, có sẵn là chậm nhất 03 ngày làm việc; đối với thông tin phức tạp là chậm nhất 12 ngày, có thể gia hạn thêm tối đa 12 ngày với thông báo bằng văn bản. Quy định này tạo sự minh bạch và nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan, đơn vị.
Thứ tư, tăng cường trách nhiệm chủ động, thường xuyên của cơ quan, đơn vị: Theo Điều 11 của Luật và các quy định hướng dẫn, cơ quan, đơn vị phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp: bảo đảm quyền tiếp cận thông tin; xác định rõ đầu mối cung cấp thông tin; bảo đảm thông tin chính xác, đầy đủ; công khai, cung cấp kịp thời, minh bạch, thuận lợi; rà soát, phân loại, bảo mật trước khi cung cấp; ban hành Quy chế cung cấp thông tin; xây dựng chuyên mục tiếp cận thông tin trên cổng/trang thông tin điện tử; lập, cập nhật và công khai Danh mục thông tin phải được công khai; cung cấp thông tin do mình nắm giữ khi cần bảo vệ lợi ích công cộng, sức khỏe cộng đồng; giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh; báo cáo tình hình thực hiện pháp luật về tiếp cận thông tin khi được yêu cầu. Trách nhiệm không còn mang tính “làm khi có yêu cầu” mà phải chủ động, thường xuyên và có tính hệ thống.
Thứ năm, bảo vệ và hỗ trợ nhóm yếu thế: Người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi hơn khi thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Luật khuyến khích đầu tư trang thiết bị chuyên dụng và ứng dụng công nghệ để không ai bị bỏ lại phía sau trong kỷ nguyên số.
Thứ sáu, quy định rõ chức năng đầu mối của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: Tại điểm d khoản 2 Điều 10 của Luật quy định Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm cung cấp thông tin do Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các cơ quan của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tạo ra và thông tin do mình tạo ra. Văn phòng không chỉ hỗ trợ hoạt động của đại biểu và Hội đồng mà còn trở thành đầu mối chính thức bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân đối với hoạt động của cơ quan dân cử. Quy định này tạo “cầu nối” rõ ràng, thống nhất, giúp người dân, doanh nghiệp dễ dàng tìm hiểu nghị quyết, kết luận, chương trình giám sát, báo cáo của Hội đồng nhân dân và ý kiến của đại biểu Quốc hội liên quan trực tiếp đến đời sống địa phương, thay vì phải “chạy lòng vòng” giữa nhiều cơ quan.

Một số quy định mới theo Luật Tiếp cận thông tin 2026
Ý nghĩa, tầm quan trọng của Luật trong thực tiễn
Khi thông tin được công khai rộng rãi và dễ tiếp cận, người dân không chỉ “biết” mà còn “hiểu”, “giám sát” và “thụ hưởng”. Doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận chính sách, thủ tục; người dân dễ dàng theo dõi quy hoạch, dự án, ngân sách; xã hội giảm thiểu tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước được nâng cao, quản trị công trở nên hiện đại, lấy người dân làm trung tâm. Thông tin chính là quyền lực của Nhân dân. Nhận thấy rõ tầm quan trọng đó, ngày 09/10/2026, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị tập huấn về Luật Tiếp cận thông tin và Nghị định số 337/2026/NĐ-CP tại thành phố Đà Nẵng để truyền tải đầy đủ, kịp thời tinh thần của Luật cũng như phân tích, đánh giá, làm rõ các điểm mới quan trọng, tạo thuận lợi để các sở ngành, đơn vị, địa phương tiếp cận và áp dụng đảm bảo theo đúng quy định.
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 hài hòa giữa quyền tiếp cận thông tin với việc bảo vệ bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh và an ninh mạng - bảo đảm không “mở cửa” một cách vô nguyên tắc, nhưng cũng không để quyền của công dân bị thu hẹp không cần thiết.
Hành động cụ thể
Để Luật và Nghị định hướng dẫn thi thành thực sự đi vào cuộc sống, mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương cần quan tâm: (i) Rà soát, lập danh mục đơn vị sự nghiệp công lập thuộc diện phải cung cấp thông tin; Xác định rõ đầu mối cung cấp thông tin; (ii) Xây dựng hoặc hoàn thiện Quy chế cung cấp thông tin, chuyên mục tiếp cận thông tin trên cổng thông tin điện tử; (iii) Số hóa dữ liệu, cập nhật thường xuyên, bảo đảm thông tin có hệ thống, dễ tra cứu, tải về; (iiii) Tập huấn cán bộ đầu mối về kỹ năng phân loại thông tin, hỗ trợ người dân, đặc biệt là nhóm yếu thế.
Mỗi công dân cần chủ động hơn trong việc thực hiện các quyền công dân của mình như tìm kiếm thông tin công khai trước, yêu cầu khi cần thiết, giám sát khi thấy thiếu minh bạch. Quyền tiếp cận thông tin không phải là quan hệ “xin - cho”, mà là quyền hiến định được bảo vệ bằng quy định pháp luật.
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 và Nghị định số 337/2026/NĐ-CP không chỉ là văn bản pháp lý mà còn là lời cam kết giữa Nhà nước với Nhân dân. Sự minh bạch về thông tin chính là nền tảng của niềm tin. Thông tin đồng thời cũng là sức mạnh của dân chủ. Khi mỗi cơ quan mở cánh cửa tiếp cận về thông tin, mỗi công dân sẽ nhìn thấy rõ hơn và vững tin hơn vào chức năng, nhiệm vụ, vai trò cũng như nhìn thấy rõ hơn định hướng phát triển của đất nước. Hãy để quyền tiếp cận thông tin trở thành cầu nối vững chắc giữa “dân biết”, “dân giám sát” và “dân thụ hưởng” trong kỷ nguyên số./.