
Khu Lưu niệm đồng chí Võ Chí Công, ảnh: Minh Sơn
Những con số 9 tháng qua cho thấy du lịch tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của kinh tế Đà Nẵng. Theo thống kê của thành phố, tổng lượng khách do các cơ sở lưu trú phục vụ đạt 15,68 triệu lượt, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách quốc tế đạt hơn 7,73 triệu lượt, tăng 28,7%; khách trong nước đạt hơn 8,13 triệu lượt, tăng 24,3%. Cùng với đà tăng trưởng của du lịch, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận những kết quả tích cực. GRDP ước tăng 10,3%, riêng quý III tăng 11,83%; thu ngân sách nhà nước vượt dự toán. Những kết quả này cho thấy sức hấp dẫn ngày càng lớn của Đà Nẵng đối với du khách và nhà đầu tư, đồng thời khẳng định vai trò của du lịch trong hệ thống các ngành kinh tế dịch vụ của thành phố. Tuy nhiên, nếu mục tiêu là đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, thước đo không thể chỉ dừng ở số lượt khách bởi một điểm đến có hàng chục triệu lượt khách nhưng mức chi tiêu thấp, thời gian lưu trú ngắn, sản phẩm trùng lặp và giá trị gia tăng hạn chế thì chưa thể tạo ra một ngành kinh tế có sức lan tỏa mạnh. Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với Đà Nẵng trong giai đoạn mới là chuyển từ tư duy “tăng lượng khách” sang “tăng giá trị từ mỗi du khách”, từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, chất lượng, hiệu quả và bền vững.
Cơ hội để Đà Nẵng tái định vị trên bản đồ du lịch khu vực
Nghị quyết 26 mở ra một yêu cầu mới đối với phát triển du lịch: chuyển từ tư duy chạy theo số lượng sang chú trọng chất lượng, hiệu quả, tính bền vững và giá trị gia tăng; lấy văn hóa làm nền tảng, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh. Đây cũng là hướng đi phù hợp với Đà Nẵng khi thành phố đang sở hữu một hệ tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng và có khả năng kết nối, bổ trợ lẫn nhau. Với không gian biển trải dài từ bán đảo Sơn Trà đến Cửa Lở, có vịnh Đà Nẵng, vịnh An Hòa, đảo Tam Hải và Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm cùng hệ thống di sản văn hóa thế giới Đô thị cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn; từ những làng quê, không gian văn hóa miền núi đến diện mạo đô thị hiện đại; từ bản sắc đa dạng của cộng đồng các dân tộc thiểu số đến những hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đặc sắc..., đây là điều kiện tiên quyết để hình thành một không gian du lịch đa tầng, đa trải nghiệm và giàu bản sắc. Lợi thế đó càng được cộng hưởng bởi vị trí cửa ngõ, thuận lợi kết nối với các tỉnh, thành miền Trung, Tây Nguyên và các hành lang kinh tế quốc tế. Vấn đề đặt ra không còn là Đà Nẵng có gì để phát triển du lịch, mà là làm thế nào để kết nối, tổ chức và chuyển hóa những lợi thế ấy thành những sản phẩm khác biệt, những trải nghiệm có giá trị và một hệ sinh thái du lịch đủ sức cạnh tranh ở tầm khu vực và quốc tế.
Giải pháp nào để du lịch Đà Nẵng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị quyết 26 là xác định du lịch theo mô hình hệ sinh thái kinh tế tổng hợp. Đây là cách tiếp cận mà Đà Nẵng cần đặc biệt coi trọng bởi du lịch không thể đứng riêng lẻ. Một du khách đến Đà Nẵng có thể sử dụng đồng thời các dịch vụ như: hàng không, đường sắt, đường bộ, lưu trú, ăn uống, mua sắm, vui chơi giải trí, thể thao, chăm sóc sức khỏe, văn hóa, nghệ thuật và nhiều dịch vụ khác,...Nếu các ngành này cùng phát triển nhưng thiếu kết nối, phần giá trị mà thành phố giữ lại từ mỗi du khách sẽ hạn chế. Ngược lại, nếu hình thành được một hệ sinh thái đồng bộ, mỗi khoản chi tiêu của du khách có thể tạo ra nhiều vòng quay kinh tế hơn cho kinh tế thành phố. Do đó, cần chuyển từ tư duy “phát triển ngành du lịch” sang “phát triển hệ sinh thái kinh tế du lịch”. Trong hệ sinh thái đó, kinh tế đêm phải trở thành một cấu phần quan trọng. Đà Nẵng cần hình thành các khu vực có hoạt động kinh tế về đêm đủ sức hấp dẫn để kéo dài thời gian lưu trú và các chi tiêu khác, thay vì du khách chỉ tham quan ban ngày và thiếu sản phẩm vào buổi tối. Cùng với đó là phát triển kinh tế thể thao, du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch cưới, du lịch MICE, du lịch golf, du lịch đường thủy, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và các sản phẩm gắn với văn hóa bản địa. Đặc biệt, cần khai thác mạnh hơn mối quan hệ giữa du lịch và công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo. Các lĩnh vực như: biểu diễn nghệ thuật, điện ảnh, quảng cáo, thiết kế, thời trang, thủ công mỹ nghệ, ẩm thực, âm nhạc, nghệ thuật đương đại... nếu được tổ chức thành sản phẩm chuyên nghiệp sẽ tạo thêm lý do để du khách đến Đà Nẵng, đồng thời tạo ra nguồn thu mới có giá trị gia tăng cao.

Một điểm du lịch trải nghiệm tại Đà Nẵng, ảnh: Minh Sơn
Mục tiêu hình thành 2-3 khu/cụm công nghiệp văn hóa, tổ hợp sáng tạo vì thế không nên chỉ được nhìn dưới góc độ mặt bằng sản xuất, mà phải trở thành những không gian trải nghiệm, sáng tạo và tiêu dùng văn hóa, nơi người dân và du khách cùng tham gia. Nhưng, một trong những điểm yếu phổ biến của các điểm đến khi tăng trưởng nhanh là sản phẩm dễ bị trùng lặp. Đà Nẵng không thiếu điểm tham quan, do vậy để trở thành điểm đến hàng đầu châu Á, thành phố cần nhiều hơn những sản phẩm mà du khách có thể “nhìn thấy”; cần tạo ra những sản phẩm để du khách “tham gia, trải nghiệm và ghi nhớ”. Chẳng hạn, thay vì chỉ tham quan một không gian văn hóa, có thể tổ chức trải nghiệm nghề truyền thống, ẩm thực, nghệ thuật trình diễn, kể chuyện di sản. Thay vì chỉ ngắm biển, có thể phát triển chuỗi sản phẩm thể thao biển, chăm sóc sức khỏe, giải trí và sự kiện quốc tế,.. Điều quan trọng là mỗi sản phẩm phải trả lời được ba câu hỏi: Du khách nhận được trải nghiệm gì? Có sẵn sàng trả tiền cho trải nghiệm đó không? Và trải nghiệm ấy có đủ khác biệt để họ quay trở lại hay giới thiệu cho người khác không? Đây chính là cách nâng mức chi tiêu bình quân mà không nhất thiết phải phụ thuộc vào việc gia tăng quá nhanh số lượng khách.
Mục tiêu giữ vị trí trong top 5 các thành phố châu Á có tỷ lệ du khách quốc tế quay trở lại là một mục tiêu tham vọng. Nhưng đây cũng là thước đo phù hợp cho chất lượng phát triển. Một du khách quay trở lại đồng nghĩa với việc thành phố đã tạo ra một trải nghiệm đủ tốt. Họ không chỉ nhớ một điểm tham quan, mà nhớ cả không gian đô thị, con người, ẩm thực, dịch vụ, văn hóa và cảm xúc. Do đó, Đà Nẵng cần xây dựng chiến lược “khách quay lại” bên cạnh chiến lược “khách mới”. Có thể hình thành hệ thống ưu đãi dành cho khách quay lại, chương trình thành viên điểm đến, các sản phẩm theo mùa và các sự kiện thường niên để mỗi lần trở lại, du khách lại có một trải nghiệm mới. Đây cũng là cách giảm dần chi phí quảng bá để tìm kiếm khách mới và xây dựng một thị trường khách trung thành có giá trị cao.
Thành phố Đà Nẵng đã có nền tảng để trở thành một trung tâm du lịch và dịch vụ chất lượng cao có thương hiệu quốc tế. Nhưng trong giai đoạn mới đòi hỏi một bước chuyển lớn hơn: từ một thành phố du lịch trở thành một trung tâm kinh tế du lịch. Muốn vậy, du lịch phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đô thị; kết nối với trung tâm tài chính, khu thương mại tự do, công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm, kinh tế thể thao, kinh tế số và các ngành dịch vụ chất lượng cao. Cùng với đó cần hình thành những không gian phát triển mới, những sản phẩm du lịch mới, những doanh nghiệp du lịch có thương hiệu quốc tế và một lực lượng lao động đủ năng lực cạnh tranh. Đồng thời, cần kiên định với một nguyên tắc: không chạy theo tăng trưởng khách bằng mọi giá, mà hướng đến tăng trưởng giá trị, tăng trưởng chất lượng và tăng trưởng bền vững. Đó là một quá trình tái cấu trúc mô hình phát triển nhằm đưa ngành du lịch trở thành “đầu kéo” thúc đẩy thương mại, dịch vụ, văn hóa, giao thông, công nghiệp sáng tạo, kinh tế số, kinh tế đêm và nhiều lĩnh vực khác.