Từ những kiến nghị rất cụ thể
Tại báo cáo tổng hợp ý kiến cử tri trước kỳ họp thứ 4, HĐND thành phố khóa XI, nhiều kiến nghị từ các địa bàn miền núi đã tập trung vào những vấn đề trực tiếp liên quan đến sản xuất, sinh kế và đời sống người dân. Cử tri Hà Thanh Tùng, Phó Bí thư Chi bộ thôn Hà Ra, xã Thạnh Mỹ, phản ánh quỹ đất sản xuất hạn chế, người dân chủ yếu trồng keo nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao. Từ thực tế đó, cử tri đề nghị thành phố có chính sách hỗ trợ những mô hình sản xuất phù hợp.

Toạ đàm đổi mới, nâng cao hiệu quả tiếp xúc cử tri, ảnh: Minh Sơn
Tại xã Bến Giằng, cử tri CRiêng Mộc Miên, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã, đề nghị tiếp tục có cơ chế hỗ trợ phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại giai đoạn 2026 - 2030. Còn cử tri Hồ Thị Hoa, Bí thư Chi bộ thôn Thạnh Mỹ 3, kiến nghị phát triển cây gỗ lớn, cây keo đen và những loại cây có giá trị kinh tế cao; đồng thời tiếp tục giao rừng cho người dân quản lý, bảo vệ để tạo sinh kế. Những kiến nghị này cho thấy một thực tế: người dân miền núi không chỉ mong được hỗ trợ, mà đang đặt ra yêu cầu về một hướng sản xuất có khả năng tạo thu nhập lâu dài. Đây cũng chính là điểm cần thay đổi trong tư duy phát triển. Nếu chính sách giảm nghèo chỉ tập trung vào hỗ trợ đầu vào, người dân có thể thoát nghèo trong một giai đoạn nhưng vẫn dễ tái nghèo khi gặp thiên tai, mất mùa hoặc thị trường biến động. Ngược lại, nếu tạo được sinh kế ổn định, gắn sản xuất với thị trường và phát huy lợi thế của từng vùng, người dân sẽ có khả năng tự chủ hơn.
Điểm nghẽn lớn nhất vẫn là sinh kế
Sau hợp nhất, thành phố Đà Nẵng mới có 37 xã vùng đồng bào DTTS và miền núi, gồm 5 xã khu vực I, 4 xã khu vực II và 28 xã khu vực III; cùng 4 xã có thôn thuộc vùng DTTS và miền núi, với 420 thôn, trong đó có 230 thôn đặc biệt khó khăn. Tổng số đồng bào DTTS khoảng 164.095 người, chiếm 5,5% dân số toàn thành phố, chủ yếu là các dân tộc Cơ Tu, Xơ Đăng, Gié Triêng, Co, Mnông và một số dân tộc khác. Quy mô này cho thấy khu vực miền núi đã trở thành một bộ phận quan trọng của không gian phát triển mới. Đây đồng thời là địa bàn có ý nghĩa đặc biệt về quốc phòng - an ninh, bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học và gìn giữ bản sắc văn hóa.
Thời gian qua, các chính sách dân tộc miền núi được triển khai đồng bộ; các Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi được thực hiện; thành phố xây dựng Đề án hỗ trợ bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống giai đoạn 2026 - 2030, hỗ trợ thanh niên DTTS khởi nghiệp và lồng ghép các chương trình giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ rừng,...Tuy nhiên, nền tảng kinh tế ở nhiều xã miền núi vẫn chưa thật sự vững chắc. Sản xuất nông nghiệp phần lớn quy mô nhỏ, phụ thuộc tự nhiên. Cây lương thực phụ thuộc nhiều vào nước trời. Cây keo vẫn là lựa chọn chủ lực ở nhiều nơi bởi phù hợp với điều kiện sản xuất và cho kinh tế trong ngắn hạn mặc dù giá trị gia tăng chưa cao. Trồng rừng gỗ lớn là hướng đi có triển vọng nhưng cần thời gian dài mới đến kỳ thu hoạch. Dược liệu được kỳ vọng mở ra hướng sinh kế mới song cũng chưa thể trở thành lời giải chung cho toàn bộ miền núi. Sâm Ngọc Linh chỉ phù hợp với một số vùng có điều kiện đặc thù như Trà Linh, Trà Tập, việc di thực sang các khu vực khác còn gặp khó khăn về thổ nhưỡng, khí hậu. Các loại dược liệu khác vẫn cần tiếp tục nghiên cứu về giống, quy trình sản xuất, thị trường và chuỗi giá trị,…Đây là nút thắt cần được tháo gỡ nếu thành phố muốn đạt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều khu vực nông thôn còn 4,86%, vùng đồng bào DTTS và miền núi còn khoảng 15% và cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn.
Một số giải pháp phát triển kinh tế miền núi từ ý kiến cử tri
Có thể nói rừng là lợi thế đặc biệt của khu vực miền núi phía Tây nhưng nếu chỉ coi người dân miền núi là lực lượng tham gia bảo vệ rừng thì khó tạo động lực lâu dài. Ngược lại, khi cộng đồng được hưởng lợi hợp pháp, ổn định từ rừng, bảo vệ rừng sẽ trở thành một phần của sinh kế. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế giao rừng, khoán bảo vệ rừng và mở rộng vai trò của cộng đồng. Cùng với đó, nghiên cứu các mô hình kinh tế dưới tán rừng phù hợp, phát triển lâm sản ngoài gỗ, dược liệu bản địa và những sản phẩm không làm tổn hại đến hệ sinh thái. Về lâu dài, thành phố có thể nghiên cứu khai thác tốt hơn các nguồn lực từ dịch vụ môi trường rừng, phục hồi hệ sinh thái, tín chỉ carbon và các chương trình thích ứng biến đổi khí hậu. Nhưng đi cùng với đó phải là cơ chế để cộng đồng địa phương thực sự được hưởng lợi.

Cây keo vẫn là cây chủ lực ở nhiều nơi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, ảnh: Minh Sơn
Bên cạnh đó, do địa hình chia cắt, dân cư phân tán và thường xuyên chịu tác động của mưa lũ, sạt lở khiến đầu tư hạ tầng miền núi có chi phí cao. Nhưng nếu hạ tầng không được cải thiện thì các chính sách phát triển sinh kế cũng khó phát huy hiệu quả. Tại một số địa bàn như Đắc Pring, La Dêê, Trà Leng..., tình trạng “lõm sóng” viễn thông vẫn còn diễn ra; nhiều thôn, nóc chưa có sóng điện thoại ổn định. Khoảng 3% dân số vùng cao chưa tiếp cận đầy đủ dịch vụ viễn thông. Điện lưới cũng chưa phủ kín các cụm dân cư nhỏ lẻ và dễ bị gián đoạn trong mùa mưa bão. Vì vậy, cùng với giao thông, điện và nước, hạ tầng số cần được xem là hạ tầng thiết yếu của miền núi nhằm mở đường cho thương mại điện tử, giáo dục số, dịch vụ công trực tuyến, cảnh báo thiên tai và y tế từ xa. Đối với những khu vực dân cư quá phân tán, suất đầu tư hạ tầng lớn, cần có cách tiếp cận linh hoạt, ưu tiên các điểm dân cư tập trung, các khu vực có khả năng phát triển sản xuất và những địa bàn có nguy cơ bị chia cắt trong thiên tai. Đặc biệt, cần sớm triển khai sắp xếp dân cư tại những khu vực có nguy cơ sạt lở, lũ quét trên tinh thần chủ động, đảm bảo nơi ở mới phải có đất sản xuất hoặc sinh kế thay thế, có trường học, trạm y tế, điện, nước và viễn thông,…Ngoài ra, những kiến nghị của cử tri La Êê và Nam Giang cho thấy một đặc thù khác của miền núi là quyền được chăm sóc sức khỏe. Cử tri Zơ Râm Huấn, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã La Êê, đề nghị thành phố quan tâm đầu tư thêm trang thiết bị y tế, phương tiện vận chuyển cấp cứu nhằm nâng cao khả năng cấp cứu, chăm sóc sức khỏe người dân ngay tại địa bàn. Tại xã Nam Giang, cử tri Nguyễn Văn Hiếu, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã, nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của Phòng khám đa khoa khu vực Chà Vàl, trực thuộc Trung tâm Y tế khu vực Nam Giang. Đây là cơ sở khám, chữa bệnh phục vụ người dân các xã vùng cao Nam Giang, La Dêê, Đắc Pring và La Êê, giúp người dân giảm đáng kể thời gian, chi phí đi lại trong điều kiện địa hình phức tạp, khoảng cách xa trung tâm. Tuy nhiên, cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực tại phòng khám hiện vẫn còn hạn chế. Do đó, đầu tư y tế vùng cao cần được tính theo đặc thù địa bàn và phạm vi phục vụ, thay vì chỉ căn cứ quy mô dân số. Những cơ sở y tế ở vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn cần được ưu tiên về nhân lực, thiết bị thiết yếu và phương tiện cấp cứu. Bên cạnh đầu tư trực tiếp, cần tận dụng hạ tầng số để phát triển khám, chữa bệnh từ xa, hội chẩn trực tuyến, quản lý sức khỏe điện tử,… nhằm rút ngắn khoảng cách chuyên môn.
Cùng với đó, giáo dục miền núi cần được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược giảm nghèo và phát triển bền vững của thành phố. Bên cạnh việc bảo đảm trường lớp, cơ sở vật chất và điều kiện học tập, cần chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, tăng cường kỹ năng số, ngoại ngữ, giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa bàn. Đặc biệt, cần đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động, tiềm năng và lợi thế của khu vực miền núi; mở rộng các chương trình đào tạo nghề ngắn hạn, đào tạo tại chỗ và đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất,... Tăng cường liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp, địa phương và thị trường lao động để hỗ trợ thực tập, tuyển dụng, khởi nghiệp và chuyển đổi nghề, qua đó tạo thêm cơ hội để người dân, nhất là thanh niên và đồng bào dân tộc thiểu số, có việc làm ổn định hoặc lập nghiệp ngay tại quê hương thông qua phát triển nông nghiệp hàng hóa, lâm nghiệp bền vững, du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng, dịch vụ, chế biến nông - lâm sản, sản phẩm OCOP, sản phẩm văn hóa bản địa và các ngành nghề phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng. Đây là giải pháp có ý nghĩa kép, vừa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, vừa mở rộng cơ hội việc làm và sinh kế tại chỗ; qua đó góp phần giữ chân lao động trẻ, hạn chế di cư, phát huy nguồn lực địa phương và thúc đẩy giảm nghèo bền vững.