Chi tiết tin

Đà Nẵng với kinh tế không gian tầm thấp - Kỳ vọng và thách thức

Người đăng: Admin ĐBND Ngày đăng: 16:03 | 15/09/2026 Lượt xem: 150

Đà Nẵng quyết tâm thí điểm phát triển kinh tế không gian tầm thấp trên địa bàn thành phố, cho thấy một tinh thần đáng ghi nhận: thành phố không chỉ tìm kiếm dư địa phát triển trên mặt đất, dưới lòng đất hay trên không gian số, mà đã bắt đầu nhìn lên bầu trời tầm thấp như một không gian kinh tế mới. Với sự phát triển của thiết bị bay không người lái (UAV), trí tuệ nhân tạo, cảm biến, viễn thông và dữ liệu không gian, đây không còn là một ý tưởng viễn tưởng. UAV đã được ứng dụng trong logistics, nông nghiệp, cứu hộ, y tế, kiểm tra hạ tầng, quan trắc môi trường và nhiều dịch vụ đô thị. Đà Nẵng có lý do để đi sớm, nhưng đi sớm không có nghĩa là triển khai thật nhiều ứng dụng trong thời gian ngắn. Điều quan trọng hơn là xây dựng được một mô hình khai thác không gian tầm thấp an toàn, hiệu quả, có dữ liệu và có khả năng nhân rộng.

 

Điểm đúng trước hết là lựa chọn cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, tức sandbox, làm phương thức triển khai chủ đạo. Kinh tế không gian tầm thấp là lĩnh vực công nghệ phát triển nhanh, trong khi pháp luật, tiêu chuẩn kỹ thuật, mô hình kinh doanh và năng lực quản lý chưa hoàn thiện. Nếu chờ mọi quy định đầy đủ mới bắt đầu, thành phố có thể bỏ lỡ cơ hội. Nhưng nếu cho phép triển khai đại trà khi chưa hiểu hết rủi ro, hậu quả đối với an toàn hàng không, quốc phòng, an ninh, quyền riêng tư và cộng đồng có thể rất lớn. Sandbox là cách dung hòa hai yêu cầu ấy: cho phép thử nghiệm trong phạm vi, thời gian và điều kiện xác định; theo dõi bằng dữ liệu; đánh giá kết quả; sau đó quyết định điều chỉnh, mở rộng hoặc hạn chế.

Đà Nẵng có hơn 60 km bờ biển, địa hình gồm đô thị, sông, biển, bán đảo, rừng và miền núi; thường xuyên chịu tác động của bão, mưa lớn, lũ, sạt lở và cháy rừng. UAV có thể hỗ trợ phát hiện người gặp nạn, thả phao cứu sinh, truyền hình ảnh hiện trường, vận chuyển thuốc và nhu yếu phẩm đến vùng bị cô lập. Đà Nẵng đồng thời là trung tâm y tế, du lịch và logistics của miền Trung, có sân bay quốc tế, cảng biển, Khu công nghệ cao và Khu thương mại tự do. Vì vậy, việc thử nghiệm logistics y tế, giám sát hạ tầng, quản lý tài nguyên, cứu hộ biển và phòng chống thiên tai là phù hợp với đặc điểm của thành phố.

Tuy nhiên, kinh tế không gian tầm thấp không đồng nghĩa với sử dụng drone. Một vài tuyến giao hàng, một chương trình trình diễn ánh sáng hay một đội UAV cứu hộ mới là những ứng dụng cụ thể. Một nền kinh tế tầm thấp phải rộng hơn, gồm không phận được tổ chức, hạ tầng cất hạ cánh, hệ thống quản lý giao thông UAV, định danh phương tiện, viễn thông, dữ liệu, bảo hiểm, kiểm định, đào tạo, bảo trì, sản xuất thiết bị, dịch vụ vận hành, thị trường và chuỗi giá trị. Điều dễ làm là mô tả khá kỹ các ứng dụng, nhưng không hề dễ là việc làm rõ đầy đủ cấu trúc của nền kinh tế mà thành phố muốn hình thành.

Vì vậy, Đề án phát triển KINH TẾ KHÔNG GIAN TẦM THẤP của Đà Nẵng cần trả lời rõ: đây là một chương trình thử nghiệm ứng dụng UAV, một sandbox công nghệ, một chiến lược phát triển ngành công nghiệp UAV hay một đề án phát triển kinh tế không gian tầm thấp? Bốn mục tiêu này có liên quan nhưng không đồng nhất. Nếu ôm đồng thời tất cả, Đề án có nguy cơ đặt ra tầm nhìn rất lớn nhưng lại triển khai bằng những hoạt động rời rạc. Việc gắn thử nghiệm UAV với mục tiêu hình thành ngành bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và đóng góp vào tăng trưởng hai con số cũng cần được chứng minh bằng một chuỗi quan hệ nhân quả rõ ràng. UAV có thể tạo nhu cầu về chip, cảm biến và AI, nhưng từ nhu cầu đó đến hình thành một ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao còn là khoảng cách dài.

Các khái niệm như “hình thành nền kinh tế mới”, “tạo động lực tăng trưởng mới” hay “góp phần tăng trưởng hai con số” chưa đi kèm quy mô thị trường, doanh thu, số doanh nghiệp, số việc làm, tỷ lệ giá trị gia tăng giữ lại tại Đà Nẵng, nhu cầu đầu tư và thời gian hoàn vốn. Nếu không lượng hóa, thành công rất dễ được báo cáo bằng số lượng thiết bị, chuyến bay hay mô hình trình diễn, trong khi chưa biết chúng có tạo ra giá trị kinh tế và xã hội thực chất hay không. Danh mục thử nghiệm cũng đang khá dàn trải. Phần nội dung đề cập đến cứu hộ biển, logistics đô thị, phòng chống thiên tai, quản lý rừng, vận chuyển y tế, nông nghiệp, quản lý du lịch, hạ tầng dùng chung cho dù lượn và thể thao mặt nước, khu nghiên cứu, sản xuất, huấn luyện và đào tạo nhân lực. Mỗi bài toán có cơ quan quản lý, yêu cầu kỹ thuật, đối tượng phục vụ và mức độ rủi ro khác nhau. Nếu triển khai đồng thời, bộ máy quản lý có thể bị phân tán trước khi hình thành đủ năng lực giám sát.

Giai đoạn đầu nên tập trung vào ba bài toán dẫn đường. Thứ nhất là mạng lưới UAV phục vụ cứu hộ biển, phòng chống thiên tai và cháy rừng. Thứ hai là vận chuyển thuốc, máu, vaccine và mẫu xét nghiệm theo tuyến điểm- điểm. Thứ ba là thu thập dữ liệu phục vụ GIS, IOC, bản sao số và kiểm tra hạ tầng. Đây là những bài toán có giá trị công rõ ràng, nhu cầu thực tế, khả năng đo lường và mức độ chấp nhận xã hội tương đối cao. Các hoạt động giao hàng đô thị, drone show, dù lượn hoặc thể thao mặt nước có thể được tổ chức thành những chương trình thử nghiệm riêng. Vận chuyển người bằng eVTOL (eVTOL- Electric Vertical Take-off and Landing, nghĩa là phương tiện bay chạy bằng điện có khả năng cất và hạ cánh thẳng đứng) chỉ nên là định hướng nghiên cứu dài hạn, chưa nên trở thành trọng tâm của giai đoạn đầu.

Một khoảng trống quan trọng khác là quản trị không gian. Không gian tầm thấp không thể được quản lý chỉ bằng một bản đồ hai chiều. Mỗi hoạt động phải được xác định đồng thời bởi vị trí, độ cao, thời gian, loại phương tiện và mục đích sử dụng. Cùng một vị trí có thể được phép bay ở độ cao này nhưng bị hạn chế ở độ cao khác; được phép trong một khung giờ nhưng phải đóng lại khi có hoạt động hàng không, quốc phòng, sự kiện đông người hoặc thời tiết bất lợi. Thành phố cần xây dựng bản đồ số không gian tầm thấp ba chiều, chồng xếp các lớp về vùng cấm và hạn chế bay, bề mặt bảo đảm an toàn sân bay, công trình quốc phòng, hành lang điện cao thế, khu dân cư, trường học, bệnh viện, rừng đặc dụng, vùng đệm di sản, luồng hàng hải, điều kiện khí tượng, vùng nhiễu tín hiệu và điểm hạ cánh khẩn cấp. Các vùng được Đề án xác định chỉ nên được coi là khu vực nghiên cứu hoặc khu vực hỗ trợ thử nghiệm; không mặc nhiên trở thành hành lang được phép bay. Đề xuất bố trí Khu nghiên cứu, sản xuất, huấn luyện và thử nghiệm UAV tại Quảng Phú cũng cần được đánh giá bằng phương pháp đa tiêu chí, thay vì lựa chọn vị trí trước rồi bổ sung căn cứ sau. Cần xem xét đồng thời quy hoạch sử dụng đất, vùng trời, mật độ dân cư, khí tượng, kết nối giao thông, khoảng cách đến trường đại học và doanh nghiệp, khả năng mở rộng, chi phí đầu tư, môi trường và ảnh hưởng xã hội. Một trung tâm thử nghiệm không chỉ cần đất rộng mà còn phải nằm trong hệ sinh thái có khả năng chuyển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm và thị trường.

Về thể chế, sandbox không có nghĩa là được miễn trừ mọi quy định. Đề án phải xác định chính xác quy định nào có thể áp dụng linh hoạt trong phạm vi thử nghiệm, quy định nào tuyệt đối không được miễn trừ và cơ quan nào có thẩm quyền quyết định. Một Sở có thể là đầu mối một cửa, nhưng không thể thay thế thẩm quyền về quản lý vùng trời, quốc phòng, đăng ký phương tiện, cấp phép hoạt động bay, hàng không dân dụng và tần số vô tuyến điện. Cơ chế một cửa chỉ có giá trị khi rút ngắn được quá trình phối hợp nhưng vẫn tôn trọng thẩm quyền pháp luật của từng cơ quan. Sandbox cũng phải được phân tầng theo rủi ro. Một UAV nhỏ bay trong khu đất trống không thể chịu cùng chế độ quản lý với UAV tải trọng lớn bay ngoài tầm nhìn, bay qua khu dân cư hoặc vận chuyển máu và vaccine. Cần phân loại theo trọng lượng, năng lượng va chạm, môi trường bay, mức độ tự động, loại hàng hóa, phạm vi VLOS (VLOS -Visual Line of Sight: Bay trong tầm nhìn trực tiếp)  hoặc BVLOS (BVLOS- Beyond Visual Line of Sight: Bay ngoài tầm nhìn trực tiếp), hậu quả nếu xảy ra sự cố. Mức độ rủi ro càng cao thì yêu cầu về kiểm định, người điều khiển, bảo hiểm, giám sát và phương án dự phòng càng phải nghiêm ngặt.

Đề án đã đề cập đến Geofencing, tự động quay về, tránh vật cản và hạ cánh khẩn cấp, nhưng an toàn không thể chỉ dựa vào tính năng do nhà sản xuất công bố. Mọi hệ thống kỹ thuật đều có thể thất bại. An toàn phải được tạo ra từ sự kết hợp giữa thiết bị, người điều khiển, quy trình, hạ tầng, dữ liệu thời tiết, tổ chức vận hành và giám sát độc lập. Cũng cần phân định trách nhiệm khi UAV rơi, hàng hóa hoặc mẫu y tế bị hỏng, dữ liệu bị lộ hay quyết định điều hành sai. Trách nhiệm của nhà sản xuất, doanh nghiệp vận hành, người điều khiển, đơn vị đặt hàng và cơ quan quản lý không thể chỉ được giải quyết bằng một quy định chung rằng doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm.

Một đề án kinh tế còn phải có bài toán tài chính. Cần lượng hóa đầy đủ chi phí đầu tư trạm cất hạ cánh, hệ thống quản lý bay, viễn thông, trung tâm dữ liệu, bảo hiểm, bảo trì, pin, nhân lực và giám sát nhà nước. “Xã hội hóa” không thể thay thế cho một mô hình tài chính. Thành phố cần xác định phần nào Nhà nước đầu tư, phần nào doanh nghiệp đầu tư, dịch vụ nào được đặt hàng bằng ngân sách, dịch vụ nào thu phí và hạ tầng dùng chung được vận hành theo cơ chế nào. Cứu hộ, phòng chống thiên tai và quản lý rừng tạo ra giá trị công lớn nhưng khó thu phí trực tiếp; trong khi logistics, du lịch và trình diễn drone có khả năng thương mại hóa...

KPI cũng cần được thiết kế lại. Số chuyến bay và tỷ lệ chuyến bay thành công mới phản ánh hoạt động, chưa phản ánh giá trị. Mỗi thử nghiệm phải có đường cơ sở và phương án đối chứng, so sánh UAV với phương thức truyền thống về thời gian, tổng chi phí, độ tin cậy, chất lượng dịch vụ, an toàn và tác động môi trường. Không nên dùng một ngưỡng hoàn thành 80% KPI cho mọi mô hình. Một số chỉ tiêu như không xâm phạm vùng cấm, không làm hỏng mẫu y tế, tuân thủ bảo vệ dữ liệu và không gây thương tích nghiêm trọng phải là điều kiện bắt buộc, không thể bù trừ bằng những chỉ tiêu khác. Lộ trình thực hiện nên chia thành ba giai đoạn: chuẩn bị thể chế, bản đồ và hạ tầng dữ liệu; thử nghiệm hạn chế ba bài toán ưu tiên; sau đó đánh giá để mở rộng...

Đề án cần chuyển từ danh mục ứng dụng sang chiến lược tạo giá trị; từ những tọa độ rời rạc sang quản trị không gian ba chiều; từ mô tả công nghệ sang bài toán kinh tế; từ kỳ vọng tăng trưởng sang chỉ tiêu kiểm chứng; và từ các hệ thống doanh nghiệp riêng lẻ sang hạ tầng thể chế, kỹ thuật và dữ liệu dùng chung. Khi làm được điều đó, sandbox mới không chỉ là nơi thử máy bay, mà trở thành nơi thành phố học cách quản trị một không gian phát triển hoàn toàn mới.

Tác giả: Lê Tùng Lâm

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Thông tin - Thông báo