Trưng bày sản phẩm OCOP Quảng Nam.
Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, bộ máy chỉ đạo, giúp việc được tổ chức kiện toàn nhằm tiếp tục thực hiện Chương trình trong tình hình mới, 92/93 xã, phường đã thành lập Ban Chỉ đạo các Chương trình MTQG. Cùng với các chính sách hỗ trợ thực hiện Chương trình, HĐND thành phố ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm thực hiện một số Chương trình chuyên đề trong xây dựng NTM như: Chương trình OCOP, Chương trình du lịch nông thôn, Chương trình chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới, Chương trình tăng cường bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm và cấp nước sạch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới,... Đến nay, Chương trình đã thu hút 381 chủ thể tham gia; có 552 sản phẩm OCOP còn thời hạn, có 02 sản phẩm đạt 5 sao, 96 sản phẩm đạt 4 sao, 454 sản phẩm đạt 3 sao. Chương trình du lịch nông thôn đã góp phần khuyến khích các địa phương khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế gắn với việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và hoạt động sản xuất của người dân. Nhiều mô hình chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới cũng được xây dựng, trong đó, tỉnh Quảng Nam đã triển khai 17 mô hình thí điểm về xã NTM thông minh, 01 mô hình thí điểm xã thương mại điện tử và xây dựng 115 mô hình thí điểm thôn NTM thông minh; thành phố Đà Nẵng đã công nhận 03 thôn thông minh và chọn xã Hòa Phước (cũ) xây dựng xã NTM thông minh.

Chế biến sản phẩm OCOP Quảng Nam
Qua gần 05 năm triển khai, thành phố Đà Nẵng (cũ) có 11/11 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 08/11 xã đạt chuẩn NTM nâng cao, 02 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu; 22/113 thôn đạt chuẩn NTM kiểu mẫu, 03/113 thôn đạt chuẩn NTM thông minh; tỉnh Quảng Nam có 133/186 xã đạt chuẩn nông thôn mới, có 47 xã đạt chuẩn NTM nâng cao, 19 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu, 333/948 thôn đạt chuẩn NTM kiểu mẫu. Sau hợp nhất, thành phố Đà Nẵng (mới) có 70 xã xây dựng nông thôn mới (không tính phường, đặc khu); theo hướng dẫn tạm thời của Văn phòng điều phối nông thôn mới Trung ương về cách tính xã nông thôn mới sau sáp nhập (nhập cơ học các xã) thì thành phố Đà Nẵng (mới) có 41 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 58,5% (trong đó có 06 xã nông thôn mới nâng cao, 03 xã nông thôn mới kiểu mẫu) và 29 xã chưa đạt chuẩn nông thôn mới (trong đó có 28 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn). Bình quân tiêu chí xây dựng NTM đạt chuẩn của tỉnh Quảng Nam là 17,22/19 tiêu chí/xã; thành phố Đà Nẵng (cũ) là 19/19 tiêu chí/xã. Đối với các xã đạt chuẩn NTM từ năm 2020 trở về trước, tỉnh Quảng Nam có 74 xã/105 xã duy trì đủ 19/19 tiêu chí NTM; không có xã nào nằm trong khung thu hồi quyết định công nhận theo quy định. Tổng nguồn lực huy động giai đoạn 2021-2025 là 30.153.693 triệu đồng, trong đó: Ngân sách Trung ương: 1.124.788 triệu đồng; ngân sách địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện, xã) là 3.422.637 triệu đồng; vốn lồng ghép từ các Chương trình, dự án khác là 5.681.336 triệu đồng; huy động nguồn lực khác là 19.924.932 triệu đồng.
Còn nhiều nỗi lo
Công tác chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện Chương trình ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu, một số địa phương đã đạt chuẩn nông thôn mới có biểu hiện chững lại, thiếu tập trung nên việc duy trì chuẩn theo bộ tiêu chí mới còn chậm; có đến 31/109 xã của tỉnh Quảng Nam đạt chuẩn từ năm 2020 trở về trước chưa duy trì đủ 19/19 tiêu chí, rớt từ 1-2 tiêu chí như: văn hóa, an ninh trật tự. Công tác quản lý, theo dõi số liệu ở cơ sở còn thiếu chặt chẽ, chưa khoa học. Điều này phản ánh qua việc khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, các địa phương gặp lúng túng khi rà soát, đối chiếu nguồn vốn, danh mục tại các xã cũ trước sáp nhập, chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương về số liệu các nguồn vốn; việc tổng hợp số liệu từ cấp xã cũng như phân bổ, giao vốn lại cho cấp xã vẫn còn chậm.
Tỷ lệ giải ngân vốn năm 2025 vẫn còn thấp (47,7%), nhất là nguồn vốn kéo dài từ năm 2022-2024 sang năm 2025 mới đạt 46%; một số đơn vị, địa phương có tỷ lệ giải ngân vốn ngân sách trung ương đến thời điểm ngày 01/7/2025 đạt thấp như: xã Tây Hồ (41%), xã Quế Phước (7%), xã Thạnh Bình (27%), xã Bến Giằng (38%), nhiều xã giải ngân 0% (Việt An, Phước Năng, Núi Thành, Nam Giang...). Nợ xây dựng cơ bản của cấp xã và nguồn khác còn lớn, trong đó có nhiều địa phương có số nợ xây dựng cơ bản lớn như: xã Thu Bồn, Đại Lộc, Thượng Đức, Phú Thuận, Thăng Phú,... Chất lượng một số công trình cơ sở hạ tầng sau khi đạt chuẩn ở một số nơi chưa cao, có dấu hiệu xuống cấp do chưa được quan tâm duy tu bảo dưỡng thường xuyên.
Việc lồng ghép nguồn vốn giữa các Chương trình còn hạn chế do các Chương trình có mục tiêu, đối tượng riêng mặc dù đã có quy định về việc lồng ghép các nguồn vốn của HĐND tỉnh Quảng Nam theo Nghị quyết số 21/2022/NQ-HĐND. Kết quả xây dựng nông thôn mới giữa các vùng, địa phương còn chênh lệch lớn, nhất là giữa đồng bằng và miền núi bởi hiện nay các xã miền núi cao chưa có xã đạt chuẩn NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu. Công tác rà soát, bàn giao, chuyển tiếp chủ đầu tư, xác định đơn vị chủ đầu tư, đơn vị quản lý dự án do Chủ tịch UBND cấp xã quyết định theo ủy quyền của Chủ tịch UBND thành phố tại Quyết định số 902/QĐ-UBND ngày 07/8/2025 còn gặp khó khăn do việc lựa chọn đơn vị làm chủ đầu tư do Phòng Kinh tế vừa thực hiện nhiệm vụ theo dõi Chương trình NTM nhưng cũng đồng thời thẩm định dự án/báo cáo kinh tế kỹ thuật và thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành, không đủ cán bộ để phân rõ trách nhiệm của từng nhiệm vụ nếu được giao làm chủ đầu tư; Phòng Văn hóa thông tin không đảm bảo chuyên môn; Trung tâm Sự nghiệp công chưa có chức năng nhiệm vụ chủ đầu tư,… Nguồn lực huy động từ các tổ chức, Nhân dân đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn vẫn còn khá khiêm tốn, chiếm khoảng 0,8% tổng nguồn lực xây dựng nông thôn mới...
Chương trình giai đoạn 2021-2025 sắp kết thúc, trong khi đó áp lực giải ngân, hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu xây dựng NTM rất lớn, nhất là thời điểm sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhất định. Do vậy, để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu đề ra, cần xem xét thực hiện một số nội dung sau:
Tập trung rà soát số liệu kế hoạch vốn chưa phân bổ, giao lại cho các đơn vị, địa phương cấp xã, khẩn trương triển khai thực hiện, đảm bảo 100% kế hoạch vốn được phân bổ, giao về cho các đơn vị, cấp xã. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, phê duyệt quyết toán, đảm bảo giải ngân 100% kế hoạch vốn còn lại, nhất là nguồn vốn kéo dài, vốn ngân sách trung ương; hướng dẫn các địa phương về các nghiệp vụ đầu tư, tài chính sau sáp nhập để đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Đồng thời, rà soát, tổng hợp các khó khăn, vướng mắc của các địa phương sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp để kịp thời tháo gỡ, bao gồm việc tháo gỡ khó khăn liên quan đến việc xác định, bàn giao nhiệm vụ chủ đầu tư của Chủ tịch UBND cấp xã. Sớm rà soát tổng số nợ nông thôn mới cấp xã hiện nay và xác định khả năng cân đối các nguồn vốn để thanh toán nợ, xem xét về khả năng cân đối nguồn vốn của thành phố để báo cáo cấp có thẩm quyền hỗ trợ các địa phương không có khả năng thanh toán nợ. Tiếp tục thực hiện xét, công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới; hỗ trợ, hướng dẫn kịp thời các địa phương trong việc hoàn thiện hồ sơ xét công nhận, thẩm định kỹ lưỡng các tiêu chí, đảm bảo thực hiện đúng quy trình, công khai, minh bạch, thực chất, không chạy theo thành tích.
Đối với Chương trình giai đoạn 2026 – 2030, cần tiếp tục theo dõi các quy định, hướng dẫn của trung ương để kịp thời ban hành văn bản triển khai thực hiện; rà soát, điều chỉnh các quy hoạch xây dựng NTM phù hợp với quy định và thực tiễn sau sắp xếp đơn vị hành chính, trong đó nghiên cứu tích hợp mục tiêu Chương trình vào quy hoạch. Căn cứ bộ tiêu chí hiện hành và tiêu chí mới của Trung ương, thực hiện rà soát mức độ, tiêu chí đạt và chưa đạt của từng xã để xem xét về định hướng mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp thực hiện trong giai đoạn đến đảm bảo hiệu quả, tính khả thi cao, đồng thời kiến nghị Trung ương xem xét hỗ trợ nguồn vốn ngân sách trung ương để thực hiện Chương trình do đặc thù thành phố Đà Nẵng còn nhiều xã thuộc khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; ngoài ra, kiến nghị xem xét về việc hưởng chế độ an sinh xã hội đối với những xã đặc biệt khó khăn khi đạt chuẩn nông thôn mới.
Cân đối hỗ trợ từ ngân sách thành phố, nguồn đối ứng của cấp xã và các nguồn lực huy động hợp pháp khác để tiếp tục thực hiện các chỉ tiêu đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 và duy trì các tiêu chí đạt chuẩn. Xem xét tỷ lệ để lại ngân sách cấp xã từ nguồn thu tiền sử dụng đất, khai thác khoáng sản... để địa phương chủ động nguồn lực đối ứng thực hiện. Tiếp tục rà soát các chính sách hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế nông thôn để xem xét sửa đổi bổ sung hoặc ban hành mới nhằm thực hiện thắng lợi các chương trình MTQG về xây dựng NTM.
Minh Sơn